• http://thuocrohaumon.com/admin/
  • http://thuocrohaumon.com/admin/http://facebook.com/
Trong vườn thuốc dân tộc ,giữa hàng ngàn cây thuốc quý không thể không nhắc đến Ngải Cứu .Loài cây tưởng như đã quá quen thuộc với ngay cả những bà nội trợ nhưng thực tế nhiều công dụng của nó vẫn chưa được nhiều người biết đến. Dù được dùng dưới bất kỳ hình thức nào,ngải cứu cũng mang lại nhiều lợi ích phòng và chữa bệnh hiệu quả. Y Dược Phúc Nguyên xin giới thiệu tới bạn đọc vị thuốc ngải diệp (lá của cây ngải cứu ) và những công dụng đáng kinh ngạc của nó.






Tên thuốc: Folium Artemisiae Argyi
Tên khoa học: Artemisia vulgaris L Họ Cúc (Compositae)
Bộ phận dùng: lá. Lá khô, trên sắc tro, dưới bạc, có lông nhung trắng tro, thơm nồng, không sâu, không mốc, không lẫn cành, không lẫn thân cây và tạp chất, không vụn nát là tốt. Lá ngải để được càng lâu càng tốt (trần ngải).
Tính vị: vị đắng, tính hơi ôn.
Quy kinh: Vào kinh Can, Tỳ và Thận.
Tác dụng: điều khí huyết, trục hàn thấp, điều kinh an thai, cầm máu, thông kinh giải nhiệt.
Chủ trị:

 

  1. Dùng để cứu (trong khoa châm cứu), trị đau bụng do hàn, kinh nguyệt bế, có thai ra huyết, thổ huyết, băng huyết.



 

  1. Xuất huyết do yếu và hàn, đặc biệt là chảy máu tử cung: Dùng Ngải diệp với A giao trong bài Giao Ngải Thang.
  2. Hư hàn ở hạ tiêu biểu hiện như đau bụng hàn, kinh nguyệt không đều, vô kinh và khí hư: Dùng Ngải diệp với Đương qui, Hương phụ, Xuyên khung và Ô dược. Liều dùng: Ngày dùng 4 - 8g.
  3. Làm thuốc điều kinh: Một tuần trước ngày kinh dự kiến, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5-10g) hay dạng cao đặc (1-4g). Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường để uống, chia 2 lần/ngày. Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày. Sau 1-2 ngày sẽ thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn.
  4. Sơ cứu vết thương: Lấy lá ngải cứu tươi giã nát, thêm 1/3 muỗng cà phê muối đắp lên vết thương, cầm máu nhanh, giảm đau nhức,
  5. Giúp an thai: Những người đang mang thai, nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16gr lá ngải cứu, 16gr lá tía tô, sắc cùng với 600ml nước, sắc còn 100ml, chia làm 3-4 lần uống/ngày. Bài thuốc này có tác dụng an thai. Ngải cứu không có tác dụng kích thích với tử cung có thai nên không gây sảy thai.
  6. Trị mụn, mẩn ngứa: Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục như vậy sẽ có làn da trắng sáng hồng. Với trẻ em thường hay bị rôm sảy thì lấy lá ngải cứu xay nát rồi lọc lấy nước cho trẻ tắm.



 

  1. Đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương, đau đầu hoa mắt: Lấy 300gr ngảic cứu rửa sạch, giã nát, thêm 2 muỗng mật ong (ruồi, nghệ), vắt lấy nước uống trưa, chiều. Uống liên tục trong 1-2 tuần.
  2. Lưu thông máu lên não: Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín rồi ăn



 

  1. Suy nhược cơ thể, kém ăn: Lấy 250gr ngải cứu, 2 quả lê, 20gr câu kỷ tử, 10gr đinh quy, 1 con gà ri (gà ác) 150gr, hầm trong 0,5 lít nước (thêm gia vị, bột nêm) còn 250ml. Chia làm 5 phần, ăn cả ngày. Liên tục 1-2 tuần.



 

  1. Cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần kinh: Lấy 300gr ngải cứu, 100gr lá khuynh diệp, 100gr lá bưởi (hoặc quýt, chanh). Nấu trong 2 lít nước. Sôi 20 phút nhấc xuống, xông 15 phút. Cách thứ 2: Nấu lá thuốc cứu với 100gr lá tía tô, 100gr tần dầy lá, 50gr lá sả trong 1 lít nước còn 0,5 lít. Uống mỗi lúc khát, liên tục trong 3-5 ngày 





Ngải cứu được coi là tốt cho sức khỏe nhưng nếu dùng quá nhiều cũng có thể gây ra ngộ độc. Độc tính của ngải cứu khi dùng quá liều là làm cho  thần kinh trung ương bị hưng phấn quá mức, dẫn tới chân tay run giật, sau đó cục bộ hoặc toàn thân co giật; Sau vài lần có thể dẫn đến kinh quyết (co cứng), nói sàm, thậm chí tê liệt. Kiểm tra bằng kính hiển vi có thể phát hiện các tổn thương ở tế bào não. Sau khi khỏi bệnh, vẫn thường để lại những di chứng như hay quên, ảo giác, viêm thần kinh,…

Cách bào chế.
Theo Trung Y: Phơi khô giã nát, bỏ gân xanh, cho vào ít bột lưu hoàng (lưu hoàng ngải), dùng để cứu; cho ít bột gạo thì dễ giã nhỏ, dùng để uống.
Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, thái ngắn phơi khô. Khi dùng ngải để cứu (ngải nhung) thì phải sao qua, tán bột bỏ xơ. Dùng tươi thì rửa sạch giã vắt lấy nước uống.

Bảo quản: để nơi khô ráo, tránh ẩm. Thỉnh thoảng nên phơi lại.

Kiêng kỵ : âm hư huyết nhiệt thì không nên dùng.


MẸO HAY CHỮA BỆNH ĐÁI DẦM MẸO HAY CHỮA BỆNH ĐÁI DẦM

Đái dầm là một tình trạng không tự chủ về tiểu tiện khi ngủ chủ yếu sảy ra vào ban đêm và cũng có thể sảy ra vào ban ngày....

Vị thuốc nam Vị thuốc nam " khoác áo " loài cỏ dại

Được biết đến như một loài cỏ dại, mọc ở nhiều nơi,ven đường, bờ ruộng, bãi hoang, có sức sống bền bỉ vì kháng thuốc diệt cỏ,nhưng có lẽ...

BÍ ĐỎ, LOÀI CÂY KHÔNG CHỈ ĐỂ LÀM THỰC PHẨM BÍ ĐỎ, LOÀI CÂY KHÔNG CHỈ ĐỂ LÀM THỰC PHẨM

Bí đỏ từ lâu đã không còn lạ lẫm với chúng ta,nhưng liệu có phải đây chỉ là một loại thực phẩm hữu ích với các bà nội trợ ? còn những lợi...